Sau chấn thương và phẫu thuật, vết thương có thể đã liền nhưng chức năng bàn tay chưa chắc đã hồi phục hoàn toàn. Trường hợp nam thanh niên 19 tuổi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hợp Lực là lời nhắc nhở rằng phục hồi chức năng đúng thời điểm đóng vai trò quan trọng giúp cải thiện tầm vận động, hạn chế cứng khớp và đưa bàn tay trở lại các hoạt động thường ngày.
Bàn tay là cơ quan đảm nhiệm hầu hết các hoạt động trong sinh hoạt, học tập và lao động hằng ngày. Tuy nhiên, sau chấn thương, ngay cả khi vết thương đã được phẫu thuật và liền tốt, nhiều người bệnh vẫn có thể gặp tình trạng đau, cứng khớp, hạn chế vận động nếu không được phục hồi chức năng đúng cách.
Tại Khoa Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hợp Lực, một nam người bệnh 19 tuổi đến điều trị trong tình trạng bàn tay trái giảm khả năng cử động sau chấn thương đã được phẫu thuật trước đó. Mặc dù tổn thương phần mềm đã ổn định, người bệnh vẫn đau, cứng các khớp bàn – ngón tay và gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các động tác cầm, nắm.
Qua thăm khám, bác sĩ ghi nhận tầm vận động các khớp bàn – ngón tay trái bị hạn chế, ảnh hưởng đến chức năng vận động của bàn tay.
Vì sao sau phẫu thuật bàn tay vẫn bị cứng khớp?
Theo các bác sĩ, bàn tay là cấu trúc vận động tinh vi với sự phối hợp của xương, khớp, gân, cơ, dây chằng và thần kinh. Sau chấn thương hoặc phẫu thuật, tình trạng đau, sưng cùng thời gian phải bất động hoặc hạn chế vận động có thể khiến:
- Cứng khớp.
- Giảm tầm vận động.
- Co rút phần mềm quanh khớp.
- Giảm khả năng cầm nắm và thực hiện các động tác tinh tế.
Vì vậy, việc vết thương bên ngoài đã liền không đồng nghĩa chức năng vận động đã hồi phục hoàn toàn. Nếu không được đánh giá và can thiệp kịp thời, người bệnh có nguy cơ gặp khó khăn kéo dài trong sinh hoạt cũng như học tập, lao động.
Phục hồi chức năng cần được cá thể hóa cho từng người bệnh
Sau khi được đánh giá toàn diện, người bệnh được xây dựng chương trình điều trị kết hợp giữa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng.
Các phương pháp điều trị được chỉ định phù hợp với tình trạng lâm sàng, bao gồm:
Tập vận động có trợ giúp nhằm cải thiện tầm vận động các khớp bàn – ngón tay.
Duy trì và tăng biên độ vận động (ROM) của khớp.
- Điện châm.
- Thủy châm.
- Điều trị bằng paraffin.
- Điện phân dẫn thuốc.
Việc phối hợp nhiều phương pháp giúp hỗ trợ giảm đau, cải thiện độ linh hoạt của khớp và từng bước phục hồi chức năng vận động của bàn tay. Phác đồ điều trị luôn được cá thể hóa dựa trên mức độ tổn thương và khả năng đáp ứng của từng người bệnh.
Bác sĩ và kỹ thuật viên Khoa Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng đánh giá chức năng vận động bàn tay, xây dựng chương trình phục hồi phù hợp cho người bệnh sau chấn thương
Đừng bỏ qua giai đoạn phục hồi chức năng sau chấn thương bàn tay
Theo BS. Quách Thị Nguyên, Khoa Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hợp Lực, sau khi tổn thương được xử trí, người bệnh cần được đánh giá chức năng vận động để xây dựng chương trình phục hồi phù hợp.
Việc tập luyện cần được hướng dẫn bởi nhân viên y tế, với cường độ, thời điểm và biên độ vận động phù hợp theo từng giai đoạn hồi phục. Tự ý tập luyện quá sớm, quá mạnh hoặc không đúng phương pháp có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Người bệnh thực hiện các bài tập phục hồi chức năng bàn tay dưới sự hướng dẫn của kỹ thuật viên nhằm cải thiện khả năng cầm nắm và tăng tầm vận động
Sau chấn thương hoặc phẫu thuật bàn tay, người bệnh nên theo dõi các dấu hiệu:
Các ngón tay có gấp – duỗi linh hoạt hay không?
Bàn tay còn đau hoặc cứng khi vận động không?
Tầm vận động có giảm so với trước chấn thương?
Khả năng cầm, nắm và thực hiện các động tác tinh tế có bị ảnh hưởng?
Khi xuất hiện các biểu hiện trên, người bệnh nên đến cơ sở y tế để được đánh giá và tư vấn chương trình phục hồi chức năng phù hợp.
Vết thương khép lại chưa phải là điểm kết thúc của quá trình điều trị. Mục tiêu quan trọng hơn là giúp người bệnh lấy lại chức năng vận động của bàn tay, sớm trở lại sinh hoạt, học tập và lao động bình thường.
Có thể bạn quan tâm
Nam bệnh nhân 39 tuổi bị tai nạn lao động khiến thanh sắt đâm xuyên bàn tay trái. Khi đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hợp Lực, dị vật vẫn còn nằm xuyên qua bàn tay và được xử trí phẫu thuật tại Khoa Ngoại Chấn thương. Dị vật có thể gây tổn thương mạch máu, thần kinh, gân và xương. Vì vậy, người bị nạn không tự ý kéo, xoay hoặc rút dị vật, cần giữ nguyên và nhanh chóng đến cơ sở y tế để được đánh giá, xử trí đúng cách.
Nam sinh 17 tuổi, trước đó khỏe mạnh và chưa từng ghi nhận tiền sử dị ứng, xuất hiện ngứa, nổi ban đỏ toàn thân khoảng 1 giờ sau khi ăn món gà nấu mật ong. Sau khi tự điều trị tại nhà nhưng triệu chứng tăng dần, người bệnh xuất hiện tức ngực, khó thở và được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hợp Lực. Tại đây, người bệnh được chẩn đoán phản vệ độ II, xử trí kịp thời và ổn định sau thời gian theo dõi.
Bị ong vò vẽ đốt nhiều vết, đặc biệt tại vùng đầu, mặt, cổ, có thể gây phản ứng toàn thân và biến chứng do nọc độc. Cụ ông 71 tuổi bị ong vò vẽ đốt 6 vết vùng đầu và má trái đã được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hợp Lực để cấp cứu, theo dõi dù ban đầu chưa có dấu hiệu bất thường về hô hấp, tuần hoàn. Bài viết cung cấp cách xử trí ban đầu và những dấu hiệu cảnh báo cần đi khám sau khi bị ong đốt.
Virus hợp bào hô hấp (RSV) có thể gây các triệu chứng ban đầu giống cảm lạnh như ho, sốt, chảy mũi, nhưng ở trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ dưới 6 tháng tuổi, bệnh có thể tiến triển xuống đường hô hấp dưới gây viêm tiểu phế quản hoặc viêm phổi. Cha mẹ cần nhận biết sớm các dấu hiệu bất thường về hô hấp, khả năng bú và tình trạng toàn thân để đưa trẻ đi khám kịp thời.
Một sản phụ quê Hà Tĩnh mang nhóm máu Rh(D) âm – nhóm máu hiếm ở Việt Nam – bất ngờ chuyển dạ khi đang trên xe khách ra Hà Nội sinh con. Được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hợp Lực kịp thời, sản phụ được theo dõi sát và xử trí an toàn, mẹ tròn con vuông. Qua trường hợp này, bác sĩ khuyến cáo phụ nữ mang thai cần biết rõ nhóm máu của mình, đặc biệt với nhóm máu Rh âm để được theo dõi và dự phòng phù hợp.
Sốt cao kéo dài, đáp ứng kém với thuốc hạ sốt khiến nhiều người nghĩ đến các bệnh nhiễm trùng thông thường. Tuy nhiên, một bệnh nhi 14 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hợp Lực được chẩn đoán mắc sốt mò nhờ phát hiện một vết loét đóng vảy đen – dấu hiệu quan trọng giúp định hướng nguyên nhân và điều trị kịp thời.